Chuyện lạ xứ nguòi

$11.00

  • Trọng lượng: 0.9kgs
  • 29 Sản phẩm trong kho

Cho vào giỏ hàng:


Product Details

CHUYỆN LẠ XỨ NGƯỜI

Loại: sưu-tập

Nhà xuất-bản: Làng Văn

Số trang: 316

Nguyên giá:  16 mỹ-kim

 

 

 

-----------------------------------------------------

 

 

(Mời đọc thử vài trang, thay lời giới-thiệu)

 

 

 

Tiên-tri, linh-tính, nằm mộng...

 

 

            Trong chương kỳ này, chúng tôi sẽ kể cho các bạn nghe những chuyện nhìn thấy tương lai, những chuyện tiên tri, những chuyện linh tính, và những chuyện nằm mộng. Tất cả đều có tài liệu dẫn chứng.

 

            Nhưng trước khi đi vào xứ người, xin mời các bạn ôn lại một chút, những chuyện tương tự của nước ta: chuyện Trạng Trình.

 

            Trạng Trình tức Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585) người Hải Dương, đỗ Trạng Nguyên năm 1535 (triều Mạc Đăng Doanh), làm quan với nhà Mạc, được phong tước Trình Quốc Công, nên thường được người đời gọi là Trạng Trình.

 

            Trong văn học sử, Nguyễn Bỉnh Khiêm được ghi nhận là một nhà thơ lớn, với các tập thơ Bạch Vân Am Thi Tập, Bạch Vân Quốc Ngữ Thi, và là một nhà tư tưởng qua những phát biểu triết lý bàng bạc trong những bài thơ chữ Hán, chữ Nôm. Nhưng trong dân gian, người ta lại nhớ đến Trạng Trình như là một nhà tiên tri, với những lời khuyên đối với vua Mạc, chúa Trịnh, chúa Nguyễn, và với một tập sấm ký.

 

            Với nhà Mạc khi sắp mất ngôi, Trạng Trình khuyên nên chạy lên Cao Bằng. Quả nhiên, họ Mạc giữ được  vùng này hai đời nữa.

 

            Với Trịnh Kiểm, Trạng Trình khuyên nên an phận thờ vua Lê. Về sau, họ Trịnh tuy nắm hết thực quyền, nhưng vẫn không dám truất ngôi vua của họ Lê, chỉ giữ ngôi chúa.

 

            Với Nguyễn Hoàng, Trạng Trình khuyên nên vào phía trong dãy Hoành Sơn mà gầy dựng cơ nghiệp. Về sau, từ đất Thuận Hóa, họ Nguyễn đã dựng nên nghiệp chúa, rồi cả nghiệp vua.

 

            Những chuyện trên đã được chép trong chính sử. Nhưng ngoại truyện còn ghi rằng Trạng Trình được thầy học là Bảng Nhãn Lương Đắc Bằng truyền cho một bộ kỳ thư tên là Thái Ất Thần Kinh, nên đã quán thông cả chuyện quá khứ vị lai. Ông đã để lại cho hậu thế một bài thơ dài 250 câu, nhiều câu ý nghĩa rất bí ẩn, chỉ có thể hiểu được khi sự việc đã xảy ra rồi. Các tác giả ngày xưa gọi bài thơ ấy là Trình Quốc Công Sấm Ký. Theo các nhà bàn, thì nhiều câu sấm đã ứng vào các sự kiện lịch sử. Nhưng nghe lạ lùng hơn hết, vẫn là hai câu mà người ta cho là ứng vào việc Toàn quyền Đông Dương Pasquier bị chết cháy trên trời:

 

            Giữa năm hai bảy mười ba,

 

            Lửa đâu mà đốt tám gà trên mây.

 

            Các nhà bàn sấm Trạng Trình luận rằng: Năm hai bảy mười ba là một năm nhuận 2 tháng bảy, có 13 tháng. Còn tám gà chữ Hán là bát kê, phiên âm tên của Pasquier. Cả hai câu có nghĩa là Pasquier sẽ bị chết cháy trên trời vào một năm nhuận có 2 tháng bảy.

 

            Toàn Quyền Đông Dương Pierre Pasquier tử nạn máy bay ngày 15-1-1934, âm lịch nhằm vào ngày mồng một tháng chạp năm Quí Dậu. Năm này đúng là năm nhuận.

 

           

 

Giấc chiêm bao của Mark Twain

 

 

            Mark Twain là đại văn hào Mỹ, tên thật là Samuel Langhorne Clemens, sinh năm 1835, mất năm 1910. Hồi còn trẻ, vì nhà nghèo, ông và người em trai là Henry Clemens phải làm thủy thủ trên những chuyến tàu đò xuôi ngược trên sông Mississippi, khoảng giữa St. Louis và New Orleans.

 

            Một đêm, Mark Twain đang ngủ nhờ tại nhà người chị ở St. Louis, bỗng mơ một giấc mơ kỳ dị. Ông thấy xác của Henry được đặt trong một cái quan tài bọc kẽm, để giữa phòng khách nhà người chị. Trên ngực Hery có một bó hoa, giữa bó hoa là một cái hoa màu đỏ thẫm.

 

            Khi Mark Twain tỉnh dậy, ông cứ tưởng là Henry đã chết, và xác đang để ở phòng khách. Ông mặc quần áo, định đi viếng em, nhưng lại đi ra ngoài. Đi được một đoạn ngắn, ông mới nhớ ra vừa rồi chỉ là chiêm bao, liền quay trở về kể cho người chị nghe.

 

            Hai tuần sau đó, Mark Twain và Henry gặp nhau tại New Orleans, rồi theo hai chiếc tàu khác nhau để đi St. Louis. Henry làm việc trên tàu Pennsylvania. Khi tàu này chạy gần tới Memphis, thì nồi hơi nổ. Nhiều người chết, riêng Henry bị thương nặng, được chở tới Memphis để chữa, nhưng chỉ sống thêm được vài ngày.

 

            Hầu hết nạn nhân của tai nạn này đều được đặt nằm trong những chiếc quan tài bằng gỗ. Riêng Henry, thì một số phụ nữ tại địa phương thương hại cậu ta còn quá trẻ, đã chung tiền mua cho cậu một cái hòm bọc kẽm. Khi Mark Twain tới viếng em, ông thấy em nằm trong một chiếc hòm giống y như trong giấc mộng, duy chỉ thiếu bó hoa. Nhưng ngay khi ông còn đứng đó, một cô gái bước vào, đặt trên ngực Henry một bó hoa, giữa bó là một đoá hồng đỏ.

 

 

 

Tiểu thuyết hay là sấm truyền?

 

 

            Năm 1896, nhà văn Mỹ Morgan Robertson cho xuất bản một cuốn tiểu thuyết nhan đề là The Wreck of the Tian (Tàu Khổng Lồ đắm). Cuốn sách kể lại chuyến vượt Đại Tây Dương lần đầu của chiếc thương thuyền sang trọng có tên là Titan. Theo câu chuyện trong sách, đây là chiếc tàu to nhất, tiện nghi nhất, an toàn nhất, nghĩa là không thể chìm được. Nhưng chiếc tàu đã chìm khi đụng phải băng trôi, ngay trong chuyến hải hành đầu tiên, gây tổn thất nhân mạng rất lớn. Tất nhiên, toàn thể câu chuyện đều là hư cấu.

 

            Mười bốn năm sau, chiếc Titanic (Khổng Lồ), một chiếc thương thuyền của anh, to và sang trọng vào bậc nhất lúc bấy giờ, được quảng cáo rùm beng là không bao giờ chìm được, đã chìm ngay trong chuyến đi đầu. Chiếc tàu khởi hành từ cảng Southampton, Anh; định đi New York, Mỹ. Trong đêm 14 rạng 15 tháng 4.1912, khi tàu đang chạy ngang phía nam cách Newfoundland, Gia nã đại, chừng 600 cây số, thì đụng nhằm một băng sơn. Tàu chìm, làm chết 1.513 người.

 

 

 

Giấc mơ của Giám mục Joseph Lanyi

 

 

            Giám mục Joseph Lanyi nguyên là thầy học của Francis Ferdinand, khi vị hoàng thân này còn nhỏ. Francis Ferdinand là hoàng thân nước Áo, đã bị ám sát cùng với phu nhân ngày 28.6.1914, tại Sarajevo, Nam Tư. Vụ ám sát này là nguyên nhân trực tiếp gây ra cuộc thế chiến thứ nhất.

 

            Sáng sớm ngày ghi trên, Giám mục Lanyi giật mình tỉnh dậy sau một giấc mộng hãi hùng. Ông kể:

 

            Tôi thấy tôi đi ra chỗ bàn giấy của tôi lúc sáng sớm để xem có thư từ gì không. Phía trên chồng thư có một phong bì có viền đen, có mộc đen, và có huy hiệu của hoàng thân Ferdinand. Tôi nhận ra ngay đó là thư của hoàng thân. Tôi lại nhìn thấy trên đầu tờ giấy viết thư màu xanh, một bức hình thường thấy trên những tấm bưu thiếp. Trong bức hình, có một con đường lớn và một con đường hẻm. Hoàng thân Ferdinand cùng phu nhân đang ngồi trong một chiếc xa, phía đối diện là một viên tướng, bên cạnh người lái xe là một sĩ quan. Hai bên đường có rất đông người. Hai người thanh niên xông lại, bắn vào hoàng thân và phu nhân. Phía dưới bức hình, tôi đọc được những dòng này: Thưa ngài Lanyi, tôi xin thông báo là tôi và vợ tôi vừa bị ám sát trong một âm mưu chính trị. Xin ngài hãy cầu nguyện cho chúng tôi. Sarajevo, 3 giờ 15 sáng ngày 28 tháng 6. Hoàng thân Franz.

 

            Tôi tỉnh dậy, vừa run vừa khóc. Nhìn đồng hồ, tôi thấy nó chỉ đúng 3 giờ 15. Tôi chạy ra thư phòng, và ghi ngay những điều vừa thấy trong chiêm bao vào sổ tay. Đến khoảng gần 6 giờ sáng, người giúp việc bước vào thư phòng, thì thấy tôi đang đọc kinh, mặt mày tái ngắt, nên hỏi tôi có bệnh không. Tôi bảo anh ta đi mời mẹ tôi và người khách đang có mặt trong nhà vào, để tôi cầu nguyện cho hoàng thân và phu nhân. Tôi kể cho mẹ tôi và người khách nghe giấc chiêm bao, cầu nguyện xong, rồi đi vào ngồi một mình trong nhà nguyện. Nhưng tôi vẫn không bình tâm được chút nào, cứ mãi hồi hộp và lo sợ. Đến 3 giờ rưỡi chiều, tôi nhận được điện tín báo tin vụ ám sát.

 

 

 

Những con người cổ đại to lớn như thế nào?

 

 

            Đây không phải là những lý thuyết khoa học khó hiểu, mà chỉ là những dấu vết đơn giản.

 

            - Năm 1896, viện Hàn lâm Khoa học tiểu bang Ohio (Mỹ) nhận được một tảng đá, trên đó có hằn dấu vết rõ ràng một bàn chân của con người. Chiều dài dấu bàn chân là 37 phân.

 

            Tảng đá được tìm thấy ở một ngọn đồi phía bắc thị trấn Parkesburg thuộc tiểu bang West Virginia.

 

            Chỉ cần biết bàn chân của một người Bắc Âu (loại to con nhất thế giới) cũng chỉ dài chừng 28 phân, thì hình dung ngay ra được con người có bàn chân dài 37 phân kia to đến mức nào. Cao trên 3 thước chăng?

 

            - Trong cuốn American Antiquities (Đất Mỹ Cổ Thời) xuất bản từ thế kỷ trước, Josiah Priest cho biết có những dấu vết ngựa, gà tây và người, trên đá cứng ở vùng thượng lưu sông Tennessee, phía nam thị trấn Braystown, tiểu bang North Carolina. Trong số dấu vết ấy, có dấu một bàn chân người dài 40 phân, chỗ các ngón chân rộng 33 phân, ở gót rộng 13 phân. Con người có bàn chân này có lẽ còn to lớn hơn con người trên kia. Ngoài ra, còn có những dấu chân 6 ngón.

 

             - Những dấu vết sau đây lại càng khổng lồ hơn, nhưng không chắc động vật để dấu lại là con người.

 

            Năm 1931, một công chức làm việc tại tiểu bang New Mexico, tình cờ nhận thấy có nhiều dấu vết của con người cổ đại tại vùng sa mạc Great White Sands. Qua năm sau, một phái đoàn khoa học được cử tới điều tra. Phái đoàn tìm được 13 dấu chân trên đá. Mỗi dấu dài từ 40 đến 55 phân, rộng từ 20 đến 30 phân, khoảng cách mỗi bước là 1 thước rưỡi, hai bàn chân dạng ra 6 tấc.

 

            Vào các năm 1972, 1974, 1981, các nhà khoa học đã trở lại chỗ ấy, và lần nào cũng tìm thêm được dấu vết.

 

            Nền đá có in dấu không cứng lắm. Trong lần khảo sát đầu tiên (1932), các nhà khoa học nhận thấy các dấu chân sâu hơn mặt đá cỡ 6 phân; nhưng sau 42 năm, trong lần khảo sát năm 1974, họ nhận thấy những vết ấy lồi cao hơn mặt đá xung quanh gần 4 phân. Gió và nước đã bào mòn mặt đá mềm, nhưng không bào mòn được những chỗ đã bị bàn chân của giống động vật khổng lồ kia nén xuống.

 

            Sau mấy lần khảo sát, các nhà khoa học đều xác quyết những dấu vết kia là dấu chân của một loài động vật. Nhưng họ không khẳng định là của con người. Có người nghĩ đó là dấu chân của lạc đà chở quân dụng trong quân đội Mỹ khoảng thập niên 1850. Có người lại cho đó là dấu chân của giống lạc đà, hoặc voi ma-mút để lại đó ít ra cũng trên 10 ngàn năm. Nhưng có một điểm khiến các nhà khảo cổ đau đầu: khoảng cách giữa hai bàn chân trái mặt khi bước đi, rõ ràng là của một giống vật hai chân. Nhưng nếu là của con người, thì con người ấy phải cao đến trên 4 thước sao?

 

 

 

Ngày nguyệt ky của vua Louis 16

 

 

            Theo tục lệ cũ của dân quê Việt Nam, mỗi tháng âm lịch có ba ngày nguyệt kÿ là mồng năm, mười bốn, và hai mươi ba. Trong những ngày đó, người ta tránh khởi đầu làm những công việc quan trọng. Đôi khi, nếu hoãn qua ngày khác được, thì việc thường, những người mê tín dị đoan cũng tránh. Có câu Mồng năm, mười bốn, hăm ba; dù là viếng mẹ thăm cha cũng đừng. Hoặc: Mồng năm, mười bốn, hăm ba; đi chơi còn lỗ huống là đi buôn.

 

            Đối với một số người Tây phương, ngày nguyệt kÿ lại là ngày 13 mỗi tháng. Đại kÿ là những ngày 13 thứ sáu.

 

            Nhưng đối với vua Louis 16, thì ngày nguyệt ky lại là ngày 21 (trong khi đó, một số dân quê ta trước kia lại nghĩ ngược lại: hăm mốt tốt ngày).

 

            Louis 16 làm vua nước Pháp liền trước cuộc Cách mạng Tư sản Dân quyền 1789. Ông sinh năm 1754, chết năm 1793, làm vua được 17 năm.

 

            Hồi Louis còn nhỏ, một nhà chiêm tinh đã dặn cậu phải hết sức đề phòng những ngày 21 mỗi tháng. Louis rất tin thuật chiêm tinh, nên đã kiếm cớ tránh làm những việc quan trọng trong những ngày 21.

 

            Nhưng Louis chỉ có thể đề phòng được khi còn cầm quyền, còn chi phối được vận mạng của mình. Sau khi nhà vua mất quyền, những biến cố lớn xảy ra cho ông, đều xảy ra đúng ngày 21: Ngày 21.6.1791, nhà vua và hoàng hậu Marie Antoinette bị bắt giữ khi đang toan tính bỏ trốn; ngày 21.9.1792, phe cách mạng tuyên bố hủy bỏ định chế quân chủ; ngày 21.1.1793, nhà vua bị hành quyết.

 

 

 

Không đồng sinh, nhưng đồng tử

 

 

            Các bạn có nhớ ngày xưa người Tàu họ hay thề nguyền như thế nào không? Là vợ chồng, thì họ nguyện: Sinh đồng tịch đồng sàng, tử đồng quan đồng quách (Sống chung giường chung chiếu, chết chung hòm chung mồ). Là anh em kết nghĩa, thì họ nguyện: Bất khả đồng sinh, ninh nguyện đồng tử (Không được sinh cùng ngày, xin được chết cùng ngày).

 

            Nhưng trường hợp John Adams và Thomas Jefferson thì không cầu nguyện mà cũng được.

 

            Adams sinh năm 1735, chết năm 1826, là tổng thống thứ nhì của Hoa kỳ (1797-1801), kế vị Washington. Jefferson sinh năm 1743, chết năm 1826, là tổng thống thứ ba của Hoa kỳ (1801-1809), kế vị Adams. Jefferson là tác giả bản Tuyên ngôn Độc lập, và Adams là một trong những người nhiệt thành xưng tụng bản tuyên ngôn trong thời gian cầm quyền.

 

            Sau khi mãn nhiệm (1801), tuy không đóng một vai trò nào trong chính quyền nữa,Adams vẫn giữ liên lạc mật thiết với Jefferson.

 

            Thế rồi, vào ngày 4.7.1826, ngày Độc Lập thứ 50 của Hoa kỳ, cả hai người cùng qua đời, John Adams đi sau Thomas Jefferson chỉ 4 tiếng đồng hồ.

 

 

 

Một ông vua và một ông chủ quán

 

 

            Các bạn có nhớ chuyện này trong lịch sử nước không? Chuyện rằng: Khi biết không thể đánh thắng quân ta được, vua Càn Long nhà Thanh đành phải phong cho vua Quang Trung làm An Nam Quốc Vương, rồi giáng chỉ vời vua ta sang Yên Kinh (Nam Kinh) chầu. Vua Quang Trung bèn chọn một người có dung mạo giống mình là Phạm Công Trị đi thay. Có lẽ vua quan nhà Thanh cũng biết, nhưng hồi ấy nước ta đang ở thế mạnh, nên họ đành phải làm như không biết, để giữ thể diện. Cùng đi theo vua giả, có nhiều người, nhiều ngựa và voi, khiến cho quan quân Tàu dọc theo lộ trình, phải đưa đón thật khổ cực. Riêng Tổng đốc Lưỡng Quảng Phúc Khang An và Tuần phủ Quảng Tây Tôn Vĩnh Thanh phải đích thân đưa vua giả lên tận Yên Kinh. Vua giả họ Phạm trước đó làm gì thì không thấy sử nói rõ, nhưng đến lúc này, được hai đại thần của thiên triều phục dịch, kể cũng vinh hạnh một đời!

 

            Và các bạn có biết những sách tướng số, những sách tử vi giải thích như thế nào không, về trường hợp hai người sinh cùng ngày, cùng tháng, cùng năm, mà kẻ kia thì rất mực giàu sang, còn người này thì lại hết cỡ nghèo hèn? Sách trả lời rất tỉnh táo: Vì một người sinh ban ngày, một người sinh ban đêm.

 

            Còn sau đây là chuyện một người giống một người, nhưng là chuyện bên Ý.

 

            Cuối tháng 7 năm 1900, vua nước Ý là Umberto I phải đến thành phố Monza phía bắc nước ụ, để chủ tọa buổi lễ phát giải thưởng cho các lực sĩ điền kinh. Người tùy tùng nhà vua là tướng Emilio  Ponzio Vaglia. Họ đến nơi từ chiều hôm trước, và tối hôm đó, hai người giả dạng thường dân tới ăn tại một ngôi quán nhỏ. Khi người chủ quán ra hỏi họ dùng gì, nhà vua và viên tướng đều giật mình, vì ông chủ quán rất giống nhà vua, gương mặt cũng như vóc dáng. Nhà vua liền kéo ông chủ quán ngồi xuống nói chuyện. Không biết đó là hoàng đế của mình, ông chủ quán trò chuyện rất tự nhiên. Sau vài phút, cả hai, nhà vua và ông chủ quán, khám phá ra rằng họ có rất nhiều điểm giống nhau: cùng sinh một ngày (14.3.1844), cùng sinh ở Turin (Piedmont, Ý), cùng có tên Umberto; cùng cưới vợ ngày 22.4.1868, hai người vợ đều tên là Margherita, cùng có con trai tên là Vittorio, cùng làm nên một ngày: Umberto vua lên ngôi, Umberto chủ quán khai trương ngôi quán nhỏ.

 

            Khi vua Umberto I tỏ ý thắc mắc tại sao từ trước hai người chưa lần nào gặp nhau, thì ông chủ quán Umberto (lúc này đã biết người đối thoại là hoàng đế) nói:

 

            - Tâu bệ hạ, thật ra trước đây chúng ta đã gần như gặp nhau hai lần, khi cả bệ hạ và tôi cùng được thượng cấp gắn huy chương về thành tích chiến đấu trong quân đội. Lần đầu, bệ hạ là đại tá, tôi là binh nhì; lần sau, bệ hạ được thăng lên tư lệnh quân đoàn, còn tôi được thăng cấp trung sĩ.

 

            Hết chuyện để nói, ông chủ quán lo đi dọn bữa ăn. Nhà vua quay lại nói với viên tướng hầu cận:

 

            - Ngày mai, trẫm sẽ phong cho người này tước Hiệp sĩ Hoàng gia. Khanh nhớ mời ông ta tới chỗ buổi lễ.

 

            Nhưng ngày hôm sau, khi vua Umberto I hỏi đến ông chủ quán, thì được biết ông ta vừa mới chết do một viên đạn lạc. Rất xúc động, nhưng nhà vua vẫn bình tĩnh dặn tướng Ponzio Vaglia phải tìm biết đích xác ngày giờ đưa tang ông chủ quán để nhà vua đến dự.

 

            Nhà vua đã không hề ngờ rằng ngay sau đó, ba viên đạn bắn vào ông, viên đầu trật, nhưng hai viên sau ghim đúng tim, khiến ông ngã chết tức khắc. Hung thủ tên là G. Bresci, một người theo chủ nghĩa vô chính phủ.

 

 

 

Những cái chết bí ẩn

 

 

            Trong lịch sử án mạng của Việt Nam ta, cũng có những vụ giết người bằng lửa. Nổi tiếng nhất có lẽ là vụ cô Quờn giết chồng vì ghen. Nhưng hiện tượng cơ thể con người tự nhiên bốc lửa rồi cháy tan đi, thì chưa từng nghe. Nhưng ở Âu Mỹ, đã có nhiều vụ con người tự cháy đến chết. Sau đây là những vụ nghe rất lạ, nhưng có xác tín:

 

            - Vụ người tự nhiên bốc cháy được ghi nhận xảy ra sớm nhất là vào năm 1673. Vụ này được chép lại trong tài liệu nghiên cứu của Pierre Aimé Lair: Một người đàn bà nghèo, sống độc thân, nghiện rượu nặng đến mức trong nhiều ngày không cần ăn gì cả, chỉ uống rượu, một đêm bị cháy đến chết. Sáng hôm sau, người ta thấy trên tấm nệm rơm mà bà ta nằm, chỉ còn lại cái đầu, mấy ngón tay, và một đống tro. Tấm nệm chỉ hơi sém.

 

            - Vụ bà Stephens cháy xảy ra tháng 10 năm 1964, trước mắt nhiều người. Olga Worth Stephens nguyên là kịch sĩ, lúc đó đã 75 tuổi. Hôm ấy bà đang ngồi trong một chiếc xe đậu tại thành phố Dallas, Texas, thì bị chết cháy. Xung quanh lúc bấy giờ có nhiều người trông thấy người bà bỗng nhiên bốc cháy, chạy lại tiếp cứu nhưng không cứu kịp. Hồ sơ xác nhận chiếc xe không hư hại, và trong xe không có thứ gì có thể bốc lửa. Vụ này được chép lại trong hồ sơ nghiên cứu của Michael Harrison.

 

            - Báo New York Times số ra ngày 1.7.1872 có đăng một vụ người chết ngoài đường, và nêu nghi vấn: tự sát hay bị giết? Hôm ấy, người ta thấy thuyền trưởng George M. Colvocoresses nằm chết trên lề một con đường đông người qua lại ở thành phố Bridgeport, tiểu bang Connecti-cut. Bên cạnh xác chết là một cái cặp da và một khẩu súng lục. Thoạt đầu, cảnh sát cho đây là một nạn nhân bị kẻ khác bắn. Nhưng sau khi khám kỹ, họ nhận thấy không hề có lỗ đạn trên mấy lớp áo ngoài, mà quanh lỗ đạn trên sơ-mi thì có dấu cháy do thuốc súng. Chi tiết này cho phép họ suy đoán rằng họng súng đã được đút vào phía trong mấy lớp áo ngoài trước khi súng nổ. Cảnh sát cũng như nhà báo hồi ấy đã không trả lời được câu hỏi: Tại sao kẻ sát nhân lại tự tạo ra cách bắn khó khăn như vậy?

 

            Rồi người ta đưa ra giả thuyết có thể viên thuyền trưởng tự sát, nhưng làm ra như thế, cốt là để thân nhân được hưởng tiền bồi thường của công ty bảo hiểm nhân thọ. Nhưng khi coi đến tờ di chúc, cơ quan điều tra biết là không phải. Rồi đến khi tìm hiểu kỹ về cá tính và cách sống rất chừng mực của ông ta, thì không còn ai tin vào giả thuyết tự sát nữa.

 

            Cuối cùng nghi vấn vẫn còn nguyên là nghi vấn: Nếu do kẻ khác giết, thì tại sao hung thủ phải nhét cho được súng vào phía trong lớp áo ngoài có cài nút, rồi mới bắn? Nếu là tự sát, thì tại sao người chán đời lại chọn một nơi có đông người qua lại? Tại sao lại phải lồng súng vào trong? Và một vấn đề kỹ thuật: viên đạn xuyên tim, người tự sát đâu còn giây nào để lấy khẩu súng bỏ ra ngoài nữa?

 

            Chuyện của Tây phương nhiều rồi, đây chúng tôi xin kể một chuyện của Đông phương: Chiếc kimono và thành phố Đông Kinh. Chuyện này được ghi trong cuốn Histoire de Tokyo (Lịch sử Đông Kinh) của Noel Nouet.

 

            Vào khoảng tháng 2 năm 1657, một vụ hỏa hoạn rất lớn đã xảy ra tại Đông Kinh, giết chết trên 100 ngàn người, phá hủy 61 cây cầu, khoảng 300 đền thờ và chùa, 500 dinh thự, 9.000 tiệm buôn.

 

            Nguyên nhân vụ cháy nghe rất lạ.

 

            Có một chiếc kimono rất đẹp, ai trông thấy cũng thích. Ba cô thiếu nữ đã nối tiếp nhau làm chủ chiếc áo truyền thống ấy, nhưng không cô nào kịp mặc. Để yên trong tủ, hoặc chỉ lấy ra ngắm nghía thì không sao, nhưng nếu định mặc đi đâu, thì chỉ vừa xỏ tay vào, cô nào cũng đột nhiên lăn ra chết, mặc dù đang khoẻ mạnh. Người ta sợ, liền đem giao chiếc áo cho một đạo sĩ. Vị đạo sĩ nghĩ không nên giữ chiếc áo ma quái xui xẻo ấy làm gì, liền nổi lửa đốt. Nhưng chiếc áo vừa bắt lửa, thì một trận cuồng phong nổi lên, thổi ngọn lửa lan ra khắp nơi. Khoảng ba phần tư thành phố trở thành bình địa.

 

 

 

Được vua kiều dưỡng, mà chết đói

 

           

 

            Robert Nixon sinh năm 1467 ở một làng quê thuộc quận Cheshire, nước Anh. Bề ngoài trông anh ta có vẻ khờ khạo, chậm hiểu, nên người ta không nhờ anh ta làm việc gì khác, ngoài việc cày ruộng. Anh ta lại ít nói, cả ngày chỉ cặm cụi làm việc. Thỉnh thoảng, người xung quanh cũng có nghe Nixon nói, nhưng anh ta không nói với ai cả, mà nói một mình. Có người tò mò cố lắng tai nghe, nhưng họ chỉ nghe được những câu không đầu không cuối, chẳng có ý nghĩa gì rõ ràng. Do đó, cả làng đều cho anh ta là người si ngốc, lại hơi tàng tàng.

 

            Một hôm, đang cày ruộng, anh ta đột nhiên dừng lại, nhìn quanh với một vẻ thật khác thường, rồi kêu to:

 

            - Này Dick! Này Harry! Dick đánh dở quá đi! Harry đánh được đấy! Harry thắng rồi, thắng rồi!

 

            Những người dân làng làm việc gần Nixon, ai cũng nghe rõ lời anh ta, nhưng không ai hiểu. Họ cũng nghĩ như mọi lần rằng anh ta lại lên cơn khùng, và nói năng bậy bạ.

 

            Nhưng qua ngày hôm sau, mọi sự đều rõ: Đúng vào lúc Nixon lên cơn khùng, vua Anh Richard Đệ Tam bị giết tại mặt trận Bosworth, và người chiến thắng là Henry Tudor, trở thành vua Henry Đệ Thất của Anh quốc.(*)

 

            Câu chuyện tiên tri này sớm được truyền đến tai ông vua mới lên ngôi. Nhà vua muốn gặp ngay Robert Nixon, cho người tới Cheshire, hộ tống anh ta về Luân Đôn. Nhưng trước khi họ đến, Nixon đã biết, và sợ hãi chạy quanh làng, kêu khóc rằng vua cho bắt anh ta về triều để bỏ đói cho chết.

 

            Trong khi đó, nhà vua đang nghĩ cách để thử tài nhà tiên tri trẻ tuổi. Khi diện kiến, Nixon nhận thấy nhà vua đang buồn rầu lo lắng. Nhà vua nói vừa bị mất một viên kim cương rất quí, nhờ anh ta tìm giúp. Nixon điềm nhiên đáp:

 

            - Tâu bệ hạ, cần gì phải tìm! Kẻ nào giấu tất nhiên biết nó ở đâu.

 

            Chỉ một câu trả lời đó thôi cũng đủ cho vua Henry Đệ Thất thán phục. Vì chính ông đã giấu viên kim cương kia. Nhà vua truyền lệnh giữ Nixon trong cung, chăm sóc anh ta thật chu đáo, và cắt người túc trực để ghi chép tất cả những gì Nixon tiên tri.

 

            Những điều ghi chép này, về sau đem kiểm chứng, thấy khớp với những cuộc nội chiến ở Anh, những cái chết và những lần phế truất các vì vua, và cả cuộc chiến tranh với nước Pháp.

 

            Trong khi Nixon đang ở tại triều, thì điều anh ta tiên đoán liên hệ đến chính anh ta, coi bộ thật khó xảy ra: Anh ta đang được nhà vua trọng dụng và cưng chiều, sao lại có thể bị bỏ đói ?

 

            Nhưng vua Henry đã nghe biết sự lo sợ của Nixon. Nhà vua ngầm ra lệnh cho nhà bếp trong cung, phải cho anh ta ăn bất cứ lúc nào, bất cứ món gì mà anh ta đòi. Vô tình, nhà vua đã khiến cho những người phục dịch trong cung thù ghét Nixon.

 

            Một hôm, vua Henry Đệ Thất có việc phải đi xa vài hôm. Nhà vua giao Nixon lại cho một viên quan hầu cận săn sóc. Viên quan này sợ trong lúc mình vắng mặt, vì thù ghét, bọn giúp việc có thể chọc phá, hoặc làm hại Nixon. Ông ta liền đem Nixon vào ở trong một căn phòng riêng của vua, rồi khóa cửa lại, nghĩ rằng chính mình sẽ lo việc cơm nước cho anh ta. Nhưng sau đó, viên quan này có công vụ khẩn phải đi xa, quên không để chìa khóa căn phòng kia lại, cũng không dặn dò gì về Nixon. Khi ông ta trở về, thì Nixon đã chết trong căn phòng riêng của nhà vua.

 

                                                                       

 

 




Copyright © 2012 làng văn