Hiểu Đúng Thành Ngữ, Tục Ngữ, Điển Tích
Tác-giả: Bút Chì (Nguyên Hương & Nguyễn Hữu Nghĩa)
Loại: kiến thức phổ thông (trích lục từ mục Độc Giả Thắc Mắc trên tạp chí Làng Văn từ 1984 đến 2008).
Nhà xuất-bản: Làng Văn
Số trang: 208
Giá: 12 mỹ-kim
Mua trên Internet: www.langvan.net (Mục: SACH MOI 2008)
Hoặc gửi chi phiếu cho:
LANG VAN
P.O.Box 218 Station "U"
Toronto, ON M8Z 5P1
Canada
------------------------------------------------------------------------
Giới thiệu:
Một cuốn sách văn hoá thực dụng nên có trong tủ sách gia đình. Nếu bạn không hiểu rõ ý nghĩa, xuất xứ, đúng sai và cách dùng của 10 chữ (trong 140 chữ) sau đây, bạn nên mua, đọc và giữ cuốn sách này.
Sách giải đáp 140 điểm độc giả thắc mắc, gồm: 36 kiểu ngồi Việt Nam - Ai bán nước? - Áo gấm về làng - Ba que xỏ lá - Bách gia chư tử - Bán đồ nhi phế - Bán mặt cho đất - Bát-kê chết cháy - Bất hứa nhân gian - Bới lông tìm vết - Bồ-đào mỹ-tửu - Bùa Lỗ Ban - Bức xúc hay bức thúc? - Bút sa gà chết - Ca dao, tục ngữ, thành ngữ, điển tích - Cái đan biều - Cáo mượn oai hùm - Cáp duồn - "Carry, porter": Bưng, vác - Cấp cấp như luật lịnh - Câu đối Tết - Cây cải về trời - Chánh bảng - Chân đăm đá chân chiêu - Chết một cửa tứ - Chi chi chành chành - Chính trị - Chín bậc phù đồ - Chim sa cá lặn - Chính trị - Chữ Việt lai căng - Chùa Bà Đanh - Chúa Chổm - Con ngựa ở thành Troyes - Con quốc quốc - Con mống sống mang - Cơm bông, cơm bụi, cơm đùm - Cố nhiên, tự nhiên - Cổ quăng - Công cốc - Cua bò, rắn bò hay trùn bò? - Củi đậu nấu đậu - Cư an tư nguy - Cường từ đoạt lý - Dĩ thực vi tiên và Dĩ thực vi thiên - Dịch hoàn (?) - Dữ, hung, tợn, táo, bạo - Dùi đục chấm nước mắm (?) - Đại hảo sinh vương - Đàn ông chớ kể Phan Trần - Đánh trống bỏ dùi - Đánh trống qua cửa nhà sấm - Đất cha hay đất me? - Đi đó hay sờ - Độc giả hay đọc giả? - Đẻ bọc điều - Đồng Bương Cấn - Gà mọc đuôi tôm (?) - Gác cu, cầm chầu - Gái thương chồng - Gàu dai, gàu sòng - Giá áo túi cơm - Giặc bên Ngô - Giàu đổi bạn - Giấm chua - Giết gà dọa khỉ; Bắt giặc bắt tướng - Hai mươi bốn "khí" - Hạt mưa sa - Hăm hở trả ơn - Hi sinh - Hoa lưu - Học ăn học nói - Hòn ngọc viễn đông - Huề thủ cựu thư qui cựu ẩn - Hữu xạ tự nhiên hương - Khả dĩ hưng - Khách giang hồ, gái giang hồ - Khó ba đời - Khóc Tố Như? - Khố xanh khố đỏ - Khôn sống mống chết - Khuôn mặt chữ điền - Kinh kỳ, phố Hiến - Kỳ lân - Lấp lúa - Lầu xanh - Lấy vợ đàn bà - Lệnh ông không bằng cồng bà - Lục cực bày hàng sáu - Lưới trời lồng lộng - Lý ngựa o - Ma vật ông vải (?) - Mã-ta - Mát tay áo rộng - Màu quan san - Mẹ đĩ - Mẹ tròn con vuông - Năm cha ba mẹ - Nét người nở nang - Nguyên đán, Nguyên-tiêu, Giao-thừa, Thượng nguyên - Nhân sâm hay đảng sâm? - Nhất nhật tại tù - Nhất nhật tam tỉnh - Nhất tiếu khuynh thành - Nhất vợ nhì trời - Nhũ danh - Những chữ trái nghĩa - Niên canh bát tư - Nối điêu - Nuôi khỉ dòm nhà - Oanh liệt - Ôm "gì" sang thuyền khác? - Ôm rơm nặng bụng (?) - Ông ba mươi - Ông già Ba-tri - Ông Hoàng Ông Trấn (?) - Phong-nhã, hào-hoa - Phù kiều - Phúc - Quân thần thủ túc - Rét nàng bân - Rể đông sàng - Ruột đau chín chiều - Rừng hạnh - "Sic" - Sáng lạng hay Xán lạn? - Sáng tai họ điếc tai cày - Sơn hà; Hạ mã - Sông Tương - Sửa dép vườn dưa - Tên Việt nam của các nước - Ta bà thế giới - Tam bành - Tam đồng qui tắc - Tam nhân đồng hành - Tam sao thất bổn - Tao khang chi thê - Tao nhân mặc khách - Thanh-hoá hay Thanh-hoa? - Thành ngữ, tục ngữ - Thành ngữ, tục ngữ - Thành ngữ, tục ngữ Hoa-Việt - Thành ngữ, tục ngữ Việt Hoa - Thất thập cổ lai hi - Thọ tỉ Nam-sơn - Thiên-kim - Thợ giày và cái đầu gối - Thơ, ca dao - Thôi nôi - Thu không - Thuật nhi bất tác - Tiết việt - Tin nhạn - Tóc đuôi gà - Trai tứ chiếng gái giang hồ - Trẫm - Trống canh - Trù, nguyền, rủa - Tự điển hay từ điển - Tuổi lập thân - Từng bước nở hoa sen - Tỳ hưu - Ướt như chuột lột (?) - Văn-tế - Vắt cổ chày ra nước - Vẽ rắn thêm chân - Vin cành quít - Vít-vồ - Vịt nghe sấm - Vương giả chi hoa - Xập xí xập ngầu - Xe bù ệt - Xe tí-ngọ - Xiển khai; Triển khai - Xuân du phương thảo địa.
-------------------------------------
Đọc thử:
Ma vật ông vải (?)
Hỏi: Xin giải thích câu "Lật đật như ma vật ông vải". Tại sao ma vật ông vải lại "lật đật"? Có người giải thích rằng: con ma lật đật vội vã vật ông bà ông vải nhà chủ trong ngày giỗ để tranh lấy đồ cúng. Nghe vậy thì hiểu vậy nhưng tôi vẫn không thể mường tượng cái cách "lật đật" ấy ra làm sao.
Đáp: Câu tục ngữ ấy đúng ra là lật đật như sa vật ống vải bị nói trại ra.
Ngày xưa, ngành dệt cổ truyền của Việt-nam trồng bông, lấy bông quay thành cúi, rồi dùng sa kéo thành sợi để dệt vải. Sa là dụng cụ kéo sợi, gồm một cái bánh xe kiến trúc giản dị với tám nan tre, chằng với nhau bằng một sợi mây. Một sợi dây chuyền từ bánh xe làm quay một cái trục nhỏ, cũng làm bằng ống tre. Ống vải là một ống tre quấn sợi bông, xỏ vào trục nhỏ này. ống vải to xù, bông quấn không đều nên khi quay theo trục vừa giật giừ, lật đật vừa kêu lọc cọc, trông rất buồn cười.
Ông bà chúng ta đã mượn hình ảnh lật đật của ống vải trên cái sa để mô tả cử động hấp tấp một cách vụng về.
Năm cha ba mẹ
Hỏi: "Kế mẫu" khác với "thứ mẫu" như thế nào? Còn "từ mẫu" có nghĩa gì, ngoài nghĩa "mẹ hiền"? Hình như trong văn-minh VN có câu "năm cha ba mẹ" để nói về năm loại cha (cha mình, cha vợ, cha nuôi, v.v.) và ba loại mẹ (mẹ mình, mẹ vợ, mẹ nuôi, v.v.) mà mình phải để tang khi ổng bả qua đời. Có phải không?
Đáp: Kế mẫu là người vợ chính-thức kế tiếp của cha, sau khi vợ cả quá đời.
Thứ mẫu là mẹ sinh ra mình, được cha cưới về lúc vợ cả còn sống.
Từ mẫu là vợ lẽ của cha, nuôi mình từ bé khi mẹ ruột qua đời.
Thành-ngữ "năm cha ba mẹ" không liên-quan gì đến việc tang-chế. Câu này chỉ có nghĩa là không ai chịu trách-nhiệm chính, công việc không được chăm-sóc chu-đáo, khi sai hỏng thì người này đổ cho người kia.
Ngược lại, thành-ngữ "năm cha bảy chú" có nghĩa là được nhiều người tài-giỏi, trưởng thượng cố-vấn, hỗ-trợ.
Thành-ngữ liên-quan đến việc tang-chế là "ba cha, tám mẹ" (ghi trong Thọ mai gia lễ của VN), liệt-kê ba loại cha, tám loại mẹ mà mình phải chịu tang khi các vị ấy qua đời, gồm:
- Ba cha: thân phụ (cha mình), kế-phụ (hay bố dượng, sau khi cha chết, mẹ lấy chồng khác, nuôi mình) và dưỡng-phụ (cha nuôi).
- Tám mẹ: đích mẫu (hay "mẹ già", vợ cả của cha); kế mẫu (mẹ mất, cha cưới vợ kế); từ mẫu (là người vợ lẽ của cha, thay người mẹ quá cố nuôi mình từ bé); dưỡng mẫu (mẹ nuôi); xuất mẫu (mẹ ruột, nhưng đã ly-hôn với cha); giá mẫu (mẹ ruột, nhưng đã lấy chồng khác khi cha mất); thứ mẫu (mẹ ruột, nhưng là vợ lẽ của cha); nhũ mẫu (bà vú nuôi mình từ bé).
Nét người nở nang
Hỏi: Một nhạc-sĩ ở Mỹ trong chuyến lưu-diễn "minh-họa Kiều" ở Úc-châu mới đây, có cho ca-sĩ hát mấy câu Kiều phổ tân-nhạc nói về nhan-sắc cô Thuý Vân:
Vân xem trang-trọng khác vời
Khuôn trăng đầy-đặn nét người nở-nang.
Tôi nghe mà ngạc-nhiên quá, vì xưa nay tôi chỉ nghe và hiểu: Khuôn trăng đầy-đặn nét ngài nở-nang. Ban đầu tưởng đâu ca-sĩ hát sai. Hỏi kỹ, ca-sĩ đưa bài cho xem, bảo rằng "ông nhạc-sĩ bảo phải hát như thế mới đúng." Tôi về nhà giở sách xem lại, vẫn thấy "nét ngài nở-nang" ràng-ràng ra đó, chứ không phải "nét người."
Tôi mang mối thắc-mắc này hỏi các bậc trưởng thượng. Có người đồng ý với tôi, bảo rằng "nét ngài nở-nang" là đúng, chứ "nét người nở-nang" hoá ra Thuý Vân mập như cái thùng tô-nô sao? Người khác lại bảo: "Mập một tí, có da có thịt là phúc tướng; chứ nét ngài nở nang (lông mày mà nở-nang, tức là đen thui một vệt như con tằm nằm vắt ngang) thì ... tội-nghiệp cho cô Thuý Vân quá, vì Nguyễn Du cũng tả tướng-mạo Từ Hải là "Râu hùm hàm én mày ngài", mà lông mày của Từ còn không được "nở-nang", nghĩa là không rậm-rì như lông mày Thuý Vân!
Tôi nghe hai cụ bàn qua bàn lại một lát mà choáng óc, ù tai. Tôi trình hai cụ là để tôi hỏi lại Bút Chì xem sao. Hai cụ đồng ý. Và thưa bác Bút Chì nghĩ sao ạ?
Đáp: Truyện Kiều có nhiều bản chữ nôm, do nhiều nhà xuất-bản ấn-hành. Các bản nôm này có rất nhiều chữ in khác nhau. Thêm vào đó, khi chuyển sang chữ quốc-ngữ, có một số chữ các nhà nho đọc khác nhau.
Các bản nôm Kiều thịnh-hành, gồm có:
- Đoạn trường tân thanh, bản của Kiều Oánh Mậu, xuất-bản năm 1902.
- Kim Vân Kiều tân tập, bản của Quan Văn Đường xuất-bản năm Bính Ngọ 1906.
- Kim Vân Kiều tân truyện, Duy Minh Thị xuất-bản, không rõ năm.
- Thuý Kiều truyện tường chú, Chiêm Vân Thị xuất-bản, không rõ năm.
- Ngoài ra, còn có các bản của Liễu Văn Đường, Abel des Michels, Chu Mạnh Trinh, Duy Minh Thị, v.v.
Về các bản quốc-ngữ, có:
- Truyện Thuý Kiều, Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim hiệu-khảo.
- Kim Vân Kiều truyện, Trương Vĩnh Ký.
- Đoạn trường tân thanh, Nguyễn Văn Anh hiệu-chú, Bộ Quốc-gia giáo-dục VNCH xuất-bản năm 1958.
- Kim Vân Kiều, Bùi Khánh Diễn, 1960.
- Truyện Kiều, Hoài Thanh, 1974.
- Truyện Kiều và tuổi trẻ, Lê Hữu Mục, Phạm Thị Nhung và Đặng Quốc Cơ, xuất-bản năm 1998.
- Truyện Kiều, chữ nôm và khảo dị, Nguyễn Bá Triệu, xuất-bản năm 2000.
- Đọc kỹ Truyện Kiều, Hồng Huy, Làng Văn xuất bản năm
- Ngoài ra còn có các bản của Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Kim Chi, Lê Văn Hoè, Nguyễn Văn Hoàn, Hồ Đắc Hàm, Đào Duy Anh & Phan Ngọc, Nguyễn Thạch Giang, E. Nordemann, v.v.
Bản quốc-ngữ của Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim phổ-thông nhất, được dùng làm tài-liệu căn-bản trong các trường học; và chính bản này đã ghi câu: "Khuôn trăng đầy-đặn nét ngài nở-nang". Hai trước-giả Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim viện dẫn sách tướng (Tướng thư) của Trung-hoa để giải-thích về nhan-sắc Thuý Vân: Diện như mãn nguyệt, mi nhược ngọa tàm (mặt như trăng tròn, lông mi như con tằm nằm vắt ngang).
Bùi Khánh Diễn cũng giải-thích "khuôn trăng đầy-đặn" là do câu "diện như nguyệt mãn" và "nét ngài nở nang" lại do câu "đạm tảo nga mi", diễn nôm là "mày nhỏ như lông mày con ngài".
Nguyễn Thạch Giang, Hoài Thanh, Vân Hạc cũng đọc là "khuôn trăng", "nét ngài".
Nguyễn Bá Triệu đọc là "khuôn trăng" và "nét người."
Riêng Trương Vĩnh Ký đọc là "Khuôn lưng đầy-đặn nét người nở-nang."
Bút Chì đồng ý với cách đọc của Trương Vĩnh Ký, căn-cứ vào bản nôm của Lâm Nhu Phu. Ở đây Nguyễn Du tả một cô Thuý Vân tướng người phúc-hậu, vượng phu ích tử (lưng đầy, hông nở), khác với cô Thuý Kiều ẻo-lả, mảnh-mai.
Chữ "lưng" thuộc bộ "nhục" + chữ "lăng" (theo tự-điển Huình Tịnh Của). Chữ nhục là thịt, rất giống chữ nguyệt là trăng; nếu thuộc bộ nguyệt, chữ này đọc là trăng.
Chữ "người" thuộc bộ "nhân", khác xa với chữ "ngài" thuộc bộ "trùng", không hiểu sao lại có sự nhầm-lẫn? Nhân tiện, xin so-sánh chữ "người" trên đây với chữ "ngài" (bộ trùng, nghĩa là con tằm) trong câu thơ tả tướng-mạo Từ Hải: Râu hùm hàm én mày ngài.
Dịch hoàn (?)
Hỏi: Tại sao tất cả người Việt đều gọi hai cái trứng của đàn ông, theo tiếng "hán việt" là "dịch hoàn", trong khi hơn một tỉ người Trung-hoa gọi đó là "cao hoàn". Vậy thì chữ nào đúng, dịch hay cao?
Đáp: Theo "hán việt" (chữ Việt gốc Hán) thì chữ đúng là cao hoàn.
Ở chữ Hán, hai chữ "cao" và "dịch" viết rất giống nhau, một số người đọc nhầm.
Tự-điển Hán Việt Đào Duy Anh, Nguyễn Văn Khôn, Thiều Chửu, Trần Trọng San đều giảng đúng.
Đào Duy Anh và Nguyễn Văn Khôn giảng, cao-hoàn: ngoại thận: hòn dái (testicules).
Thiều Chửu, cao-hoàn: hạt dái.
Trần Trọng San giảng, cao-hoàn: hòn dái, còn gọi là tinh sào hay ngoại thận.
Tự-điển Việt-nam của Lê Văn Đức cũng giảng đúng, cao hoàn: hòn dái, trứng dái.
Chỉ có Tự-điển Tiếng Việt của Viện Ngôn-ngữ học thuộc Uỷ-ban Khoa-học Xã-hội Việt-nam (VC) giảng sai:
- Dịch hoàn: xem tinh-hoàn;
- Tinh-hoàn: cũng như dịch hoàn, cơ-quan sinh ra tế-bào sinh-dục đực.