SAU BỨC MÀN TRE
Tác-giả: Mõ Làng Văn
Loại: biếm văn
Nhà xuất-bản: Làng Văn
Số trang: 188
Nguyên giá: 10 mỹ-kim
* * *
(Mời đọc thử vài đoạn thay lời giới-thiệu.
Mõ Làng Văn là bút-hiệu viết biếm-văn của Nguyễn Hữu Nghĩa)
Ca-dao thời-đại
Kỳ này Đầu Làng Cuối Xóm xin tiếp-tục trình làng một số ca-dao mới do bạn Nguyễn Thị Pha Lê sưu-tập, gửi về, như sau:
Hết đầm thì uống nước khe,
Hết người tử-tế lại nghe anh Bùi.
Tác-giả không chú-thích rõ là anh Bùi nào: Bùi Tín, Bùi Nhật Tiến, Bùi Duy Tâm hay anh ... bùi đi ô.
- Anh Bùi đỏ loét khó ưa,
Mắng người cửa trước lại hùa cửa sau.
Một mai nắng dãi mưa dầu,
Anh Bùi về với lũ trâu một chuồng.
- Cây khô chưa dễ mọc chồi,
Thò-lò chính-khách khó chơi vô cùng.
- Mật ngọt càng tổ chết ruồi,
Những câu "hòa-giải" đượm mùi xà-lim.
- Mẹ gà con vịt chít chiu,
Mấy đời Cộng-sản nó yêu dân hiền
Yêu chăng là nó yêu tiền,
Đô-la gõ tới cửa quyền mở ra.
- Một mâm là mấy cuội ngồi,
Một mâm "hội luận" mấy người húp chan
- Vẹm ta còn đó rõ-ràng,
Lại lo "bầu-cử" vội vàng không anh?
- Một thuyền một lái chẳng xong
Một chĩnh hai gáo còn nong tay vào,
Em xót thương anh trót phất ngọn cờ đào,
Còn thò tay bẻ mận dạ nào em dám ưng.
- Ngỡ rằng ông thử ông thương,
Ai ngờ ông thử trăm đường ông thôi.
Cái ghế cao ông đem nhử bao người,
Tụt váy cho ông thử ông chẳng cho ngồi một phen.
- Anh về bên đó tìm đôi,
Để em thui-thủi bên trời đợi mong
Anh trở qua quà cáp mặn nồng:
Giang mai, hoa-liễu chổng mông em kêu trời.
Thương dân... Mỹ
Trong đám cán-bộ quần-thoa (quần đỏ) của đảng CSVN có một phún lão gan-góc đầy mình, từng nằm vùng phá-hoại trong giới trí-thức miền Nam, đó là bà Ngô Bá Thành. Gọi là "bà", vì bà này không bao giờ khai tên thiệt, đi đâu, làm gì cũng đội tên chồng là Ngô Bá Thành.
Năm ngoái, sau khi Nguyễn Xuân Oánh sang Mỹ ca bài con cá khản cả cổ chẳng kiếm được một đồng pen-ny nào, Nhà nước ta bèn sai bà Thành xách cái trai lên đường. Có lẽ chính-giới Mỹ không thích gà mái già vừa dai vừa xương, nên bà cũng tiu-nghỉu về không.
Khác với xừ Tony Oánh, không moi được tiền thì im-ỉm về nhà đóng cửa giải sầu với vợ, bà Thành vắt óc viết bài đăng trên tạp-chí Cộng-sản, cơ-quan lý-luận và chính-trị của Trung-ương đảng CSVN, chỉ-trích nước Mỹ đủ điều.
Trước tiên, bà chê Mỹ không đủ sức đánh Iraq, may nhờ quyên được của thế-giới 50 tỉ mỹ-kim làm chiến-phí, nếu không đã thua Sadam Hussein rồi.
Rồi bà chê Mỹ "nợ như chúa chổm", thâm-thủng ngân-sách gần 350 tỉ mỹ-kim.
Kế tiếp, bà Thành tỏ ý thương-xót cho công-nhân Mỹ "không thoát khỏi địa-vị làm thuê và bị bóc-lột", cả nước có tới gần 40 triệu người thuộc hạng nghèo-khổ.
Chưa hết, bà bảo rằng tại nước Mỹ, tình-trạng vi-phạm nhân-quyền nghiêm-trọng và tệ-hại nhất trong các nước tư-bản.
Bài báo kết-luận, ở Mỹ, "một bộ-phận đông-đảo dân-cư đang đau-khổ, nhân-phẩm bị chà-đạp; không cơm ăn áo mặc, không nhà ở, không việc làm, đứng ngoài lề xã-hội tiêu-thụ."
Riêng câu trên đây thì bà Ngô Bá Thành nói trúng... phân nửa, vì quả thật dân Mỹ có áo mặc nhưng không có cơm ăn. Họ chỉ được ăn bánh mì và thịt bò trừ cơm. Tội nghiệp!
Tiếc là bà Ngô Bá Thành không giải-thích tại sao chính-phủ CSVN lại cử bà đi xin tiền ở một nước nghèo-khổ như vậy. Phải chăng bà muốn giải-thích rằng, vì tình-trạng dân-chúng đói-nghèo thê-thảm nên nước Mỹ không thể nào đủ sức viện-trợ cho CSVN, xin "trên" đừng hạ tầng công tác vì phái-đoàn bị gậy của bà đi không rồi lại về không!
Hà-nội giàu-có
Trong khi tạp-chí Cộng-sản đăng bài bà Ngô Bá Thành chê nước Mỹ nghèo mạt rệp, tờ Lao-động Chủ-nhật hôm 19.1 đăng bài nói về sự giàu có của Hà-nội.
Nhân-vật giàu-có điển-hình mà tờ báo nêu tên là Nguyễn Lại Minh, chỉ mới làm tới chức trưởng phòng thôi mà xây được vi-la bảy tám trăm triệu đồng. Một con chó bẹc-giê của ông Minh ốm nặng, các y-sĩ chữa chạy không khỏi, chó chết, ông cho làm đám táng linh-đình, có cả hàng đoàn xe đưa tiễn.
Xã-hội Việt-nam tất-nhiên phải có rất nhiều gia-đình cán-bộ giàu-có như vậy, tuy họ không nuôi chó hoặc không làm đám ma cho chó nên ít người biết. Lẽ ra Nhà nước CSVN chẳng cần phải đi xin viện-trợ đâu cho xa, chỉ cần điều-tra tài-sản cán-bộ Đảng từ Tổng bí-thư trở xuống là đủ tiền bù lại cho công quỹ để lo việc nước!
Sính tiếng tây
Độc giả hải-ngoại lâu lâu lại viết thư về tòa-soạn than-phiền rằng các ông các bà văn-sĩ hải-ngoại sính tiếng tây quá đỗi, trong văn Việt mà cứ đệm tiếng tây tiếng Mỹ vào lổn-nhổn như cơm trộn bo bo, khiến bạn đọc trợn-trạo khó nuốt.
Thí-dụ như câu này: "Hoa take care thằng Tí cho Mai chạy ra bank, cash cái check."
Trong một câu văn Việt ngắn-ngủi như vậy mà đã có tới năm chú ăng-lê nhảy xổ vào, tội-nghiệp quá! Có người cãi, bảo đó là "ngôn-ngữ đời thường", ngoài đời người ta đều nói như vậy cả!
Cứ cho rằng, sự thực "ngoài đời người ta đều nói như vậy cả" thì khi đưa vào văn-chương cũng phải liệu mà thay-đổi cho nó trở thành "văn-chương" chứ.
Cái "ngôn-ngữ đời thường" ấy dùng ở các nước nói tiếng Anh thì tạm được, nhưng khi mang sang Pháp, Đức, Hòa-lan và hàng trăm quốc-gia khác không nói tiếng Anh, độc-giả Việt-nam làm sao đoán cho ra? Tại sao lại nỡ đi dựng một cái hàng rào biên-giới ngôn-ngữ để ngăn cách giữa những người cùng đọc chữ Việt với nhau?
Giả-sử như bạn đang sống ở vùng nói tiếng Anh, đọc văn Việt cứ vài ba dòng lại gặp một câu lợn-cợn như vầy, liệu... chịu nổi không: "Hoa pflegen thằng Tí cho Mai chạy ra bank einluusen cái scheck." Cũng là "ngôn-ngữ đời thường" đấy thôi!
Có người bảo, không phải các ông các bà nhà văn ấy sính tiếng tây mà chính vì họ dốt chữ Việt.
Mõ cũng không đồng ý. Cái câu văn ba-rọi nói trên, "chuyển-ngữ"sang tiếng Việt trăm phần trăm thật dễ-ợt: "Hoa trông thằng Tí cho Mai chạy ra nhà băng lãnh cái chi-phiếu". Dốt mấy cũng viết được.
Không riêng gì hải-ngoại sính tiếng tây hay dốt tiếng Việt, báo-chí trong nước cũng không thiếu những câu cú lổn-nhổn ngoại-văn như vậy. Chẳng những sủa tiếng tây, các "đồng-chí" còn sủa theo lối phiên-âm ngọng-nghịu một cách rất nón cối dép râu nữa cơ!
Thí-dụ như trong bài "Đường về chân quê của Nguyễn Bính" đăng trên tạp-chí Văn-học số 6.92, tháng 11 và 12.91, "đồng-chí" Đỗ Lai Thúy viết: "Bất-giác người đọc nghĩ tới mô-típ truyền-thống trong các truyện nôm khuyết-danh như..."
Tại sao là "mô-típ"? Motif là lý-do, là duyên-cớ; trong ngữ-vựng luật-học, là căn-cứ; trong hội-họa, là mẫu hình; trong nhạc-học, là nhạc tố; trong văn-chương, là khuôn mẫu. "Đồng-chí" Đỗ Lai Thúy sính tiếng tây hay dốt tiếng Việt?
Cũng trong bài dẫn thượng, ở phần kết, tác-giả lại viết: "Còn người du-khách ở Ngự-viên mà nhớ Ngự-viên kia đã phảng-phất khí-vị của kẻ exile hiện-đại, hoài-niệm quê-hương ngay trên chính quê-hương."
Giá như "đồng-chí" Đỗ Lai Thúy nhặt hộ cái hòn sạn "exile" kia ra (chính thực phải viết là exilé: bị lưu-đày), thay bằng chữ Việt, câu văn sẽ ..."tốt" hơn nhiều.
Hay nói chữ vốn là bệnh của "Bác" cùng các đại cán, hoặc vì dốt đặc hoặc vì chữ lỏng. Bệnh này đã lậm vào tận xương-tủy các nhà làm văn-học đỏ một cách rất "lô-gíc" (xin lỗi, chữ của các đồng chấy). Cho nên cũng chính trên cùng số báo nói trên, cán-bộ Đặng Anh Đào trong bài "Một hiện-tượng mới trong hình-thức kể chuyện hiện nay", nhắc đi nhắc lại rằng: "Chính trò hỗn-hợp này làm nên chất kệch-cỡm, cái grôtescơ của truyện lịch-sử giả và phản cổ-tích... Tôi không nói đến cái grôtexcơ như một yếu-tố nằm trong bản gốc của văn-chương truyền miệng...", "...chính là điều-kiện tạo chất grôtexcơ".
"Cái chất" grôtexcơ là cái cóc khô gì mà ghê-gớm thế? Chẳng có gì thông-thái sốt. Giản-dị, nó là grotesque: lố-lăng, lố-bịch, hoạt-kê, buồn cười.
Cũng trong bài này, "đồng-chí" Đặng Anh Đào viết tiếp: "Ở những truyện viết thành-công, nó có hiệu-quả về tư-tưởng, về nội-dung: nó gây một cái sốc"...
Lại "sốc"! Nhà phê-bình gái Thụy Khuê, người được tạp-chí Văn Xã biếu không danh-hiệu "nhà-phê-bình-đọc-không-thông-một-tác-phẩm" cũng đã học mót ngay lối dùng chữ thần-sầu này. Tệ hơn một mức, nhà phê-bình gái lại phát-âm sai theo lối "mã-tấu nón cối", chuyển từ "sốc" thành "xốc". Trong bài tựa cuốn "Tiểu-thuyết vô-đề" in trộm của Dương Thu Hương, nhà phê-bình gái Thụy Khuê viết: "Cho nên có những đoạn, những lời đối-thoại có thể gây nên cái xốc đối với cộng-đồng di-tản."
"Sốc" (hay "xốc", theo nhà phê-bình gái), tiếng Hồng-mao là "shock", tiếng Phú-lãng-sa là "choc", là xung-động, đụng-chạm, va-chạm, xung-đột, đột-xuất, đột-biến, đột-khởi, khích-động, xúc-động bất-ngờ, choáng-váng, sửng-sốt, gây căm-phẩm, làm đau-buồn,... Chẳng lẽ trong cả "ba bồ chữ" của dân-tộc Việt, không có chữ nào dịch được cho sát shock hay choc? Nếu có, mà "đồng-chí" Đặng Anh Đào và nhà phê-bình gái Thụy Khuê cứ nhất-định cứ phải sủa tiếng tây... ngọng thì bậy quá!
"Đảng và Nhà nước ta" xưa nay khi cần chiêu-dụ ai thì mang chiêu-bài dân-tộc ra làm phép câu-hồn, nào là dân-tộc tự quyết, dân-tộc cánh sinh, nào là đại-đoàn-kết dân-tộc, nào là hòa-hợp hoà-giải dân-tộc, v.v. và v.v. Hô-hào inh-ỏi như thế, biểu-ngữ, bích chương, bảng cổ-động dán đầy tường, treo đầy phố cũng ồn-ào như thế, mà hễ mở mồm ra hay đặt bút xuống lại phun phèo-phèo ra toàn những "lô-gíc, exile, grô-tex-cơ, sốc, mô-típ"...
Hóa ra các "đồng-chí" nhà mình mới là những kẻ mất gốc, vong-bản và vọng-ngọai hơn bất-cứ ai khác. "Xe grô-tét-xcơ! Pha-đờ Mân-ki!"
(Mõ Làng Văn , Làng Văn, 1990)